I. KHÁI QUÁT CHUNG
1. Thông tin chung:
- Tên nước: Angola (Republic of Angola)
- Thủ đô: Luanda
- Ngày Quốc khánh: 11/11/1975
- Vị trí địa lý: Angola nằm ở phía Tây Nam châu Phi, phía Bắc giáp Cộng hòa Dân chủ Congo và Cộng hòa Congo, phía Đông giáp Zambia, phía Nam giáp Namibia và phía Tây giáp Đại Tây Dương.
- Diện tích: 1.246.700 km2, trong đó địa hình chủ yếu là đồng bằng, có 1.600 km bờ biển và 46,9% diện tích rừng.
- Khí hậu: khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới (phía Bắc - nhiệt đới ẩm, phía Nam - nhiệt đới sa mạc). Có hai mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 10 và mùa khô bắt đầu từ tháng 4 hàng năm. Nhiệt độ trung bình cao nhất khoảng 30-32°C và thấp nhất khoảng 14-16°C.
- Dân số: 39,3 triệu người (2025, theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế - IMF).
- Dân tộc: người Ovimbundu, Ambundu, Bakongo, Mulatto và các dân tộc khác.
- Tôn giáo: Công giáo, Tin lành và các tôn giáo địa phương.
- Ngôn ngữ chính thức: tiếng Bồ Đào Nha (ngôn ngữ chính thức) và một số ngôn ngữ địa phương.
- Đơn vị tiền tệ: Quan-da (Kwanza - AOA; 01 USD = 915 AOA).
- GDP: 115,17 tỷ USD; GDP/đầu người: 2.930 USD (2025, theo IMF)
- Lãnh đạo chủ chốt:
+ Tổng thống: João Manuel Gonçalves Lourenço (từ tháng 9/2017);
+ Phó Tổng thống: Esperança da Costa (từ tháng 9/2022);
+ Chủ tịch Quốc hội: Adão Francisco Correia de Almeida (từ tháng 11/2025);
+ Bộ trưởng Ngoại giao: Tete António (từ tháng 4/2020).
2. Khái quát lịch sử: Từ thế kỷ 15, người Bồ Đào Nha đến miền đất Angola ngày nay, chiếm đóng và sử dụng là nơi buôn bán nô lệ trong 05 thế kỷ.
Ngày 11/11/1975, Phong trào Nhân dân Giải phóng Angola (MPLA) tuyên bố độc lập, thành lập Cộng hoà Nhân dân Angola, nay là Cộng hòa Angola. Angola có quan hệ gắn bó với các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc. Sau khi giành độc lập, đất nước rơi vào nội chiến giữa Phong trào Nhân dân Giải phóng Angola (MPLA) và Liên minh Quốc gia vì độc lập toàn vẹn của Angola (UNITA). Năm 2002, MPLA giành thắng lợi và chấm dứt nội chiến. MPLA liên tục giành thắng lợi tại các cuộc bầu cử và chiếm đa số ghế tại Quốc hội.
3. Thể chế nhà nước, chế độ chính trị, đảng phái chính trị
- Thể chế Nhà nước: Cộng hòa Tổng thống. Tổng thống là người đứng đầu đảng cầm quyền, Nhà nước và Chính phủ. Angola có Phó Tổng thống, 04 bộ trưởng Nhà nước và 23 bộ trưởng; không có chức danh Thủ tướng. Theo Hiến pháp, Tổng thống là người đứng đầu Chính phủ; được quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm các chức vụ trong Chính phủ.
- Cơ cấu nghị viện: Quốc hội có 220 ghế. Chủ tịch Quốc hội là đại diện của đảng chiến thắng trong tổng tuyển cử.
- Đảng phái chính trị: Có 12 đảng phái đang hoạt động, trong đó 02 đảng chính gồm:
+ Đảng Phong trào Nhân dân Giải phóng Angola (MPLA): được thành lập tháng 01/1956. Chủ tịch Đảng đầu tiên là ông Agostinho Neto, sau này cũng là Tổng thống đầu tiên của Angola. MPLA là đảng dẫn dắt nhân dân Angola giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Chủ tịch đảng hiện nay là Tổng thống đương nhiệm João Lourenço.
+ Đảng Liên minh quốc gia vì Độc lập toàn vẹn của Angola (UNITA): thành lập tháng 3/1966; là đảng lớn thứ 2 và là đảng đối lập chính tại Angola.
4. Đặc điểm tình hình, chính sách
4.1. Chính trị - xã hội: Tại cuộc bầu cử tháng 9/2017, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng João Lourenço được bầu làm Tổng thống Angola, thay cho ông José Eduardo dos Santos cầm quyền từ năm 1979. Tại cuộc bầu cử tháng 8/2022, Tổng thống João Lourenço giành thắng lợi và tiếp tục nhiệm kỳ thứ 2.
4.2. Kinh tế: Angola nằm trong số 10 nền kinh tế lớn nhất châu Phi. Kinh tế Angola phụ thuộc vào xuất khẩu dầu thô và khai thác khoảng sản. Do sản xuất trong nước chưa phát triển, phần lớn các sản phẩm tiêu dùng, nhu yếu phẩm, lương thực đều phải nhập khẩu. Từ năm 2018, Angola chú trọng 03 chính sách kinh tế lớn gồm: (i) đa dạng hóa nền kinh tế để giảm phụ thuộc vào xuất khẩu dầu thô; (ii) thu hút đầu tư nước ngoài, nhất là đầu tư tư nhân; (iii) cổ phần hóa các tập đoàn kinh tế nhà nước hoạt động không hiệu quả. Tháng 7/2023, Angola công bố Chiến lược Angola 2050 (thay thế Chiến lược Angola 2025), trong đó ưu tiên phát triển nguồn nhân lực, đa dạng hóa nền kinh tế và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng… với mục tiêu đưa Angola trở thành nước có thu nhập trung bình.
- Các sản phẩm xuất khẩu chính: dầu thô, kim cương, khoảng sản, bông, cà phê, gỗ…. Các sản phẩm nhập khẩu chính: hàng tiêu dùng, máy móc và các thiết bị điện tử, dược phẩm, thực phẩm, hàng dệt may, da giày….
- Các đối tác thương mại, đầu tư chính: Trung Quốc, Mỹ, Bồ Đào Nha, Brazil, Pháp, Nam Phi, Ấn Độ…
- Tốc độ tăng trưởng: 2,1% (2025, theo IMF).
5. Chính sách và quan hệ đối ngoại
Angola theo đường lối không liên kết, chủ trương đa dạng hóa quan hệ với các nước, đẩy mạnh ngoại giao đa phương; tích cực thể hiện vai trò tại khu vực qua việc làm trung gian hòa giải cho xung đột giữa Rwanda và Cộng hoà Dân chủ Congo cũng như thúc đẩy hòa bình, tham gia điều phối sáng kiến chống lại bạo lực vũ trang và củng cố an ninh khu vực tại Hội nghị quốc tế khu vực Hồ Lớn (ICGLR). Angola là Chủ tịch luân phiên của Liên minh châu Phi (AU) năm 2025.
- Angola là thành viên của Liên hợp quốc, Liên minh châu Phi, Phong trào Không liên kết, Cộng đồng Phát triển miền Nam châu Phi, Thị trường chung Đông Nam Phi, Cộng đồng các nước nói tiếng Bồ Đào Nha, Tổ chức Thương mại Thế giới, Ngân hàng phát triển châu Phi, Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới…
II. QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM
1. Quan hệ chính trị
- Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao: 12/11/1975. Việt Nam là nước thứ 2 trên thế giới thiết lập quan hệ ngoại giao với Angola, chỉ 01 ngày sau khi Angola tuyên bố độc lập.
- Cơ quan đại diện: Việt Nam mở Đại sứ quán tại Angola năm 1976, đóng năm 2000 (chuyển sang Nam Phi) và mở lại vào năm 2002. Tháng 02/2012, Angola khai trương Đại sứ quán tại Hà Nội.
- Quan hệ kênh Đảng: Đảng Cộng sản Việt Nam và MPLA duy trì quan hệ đoàn kết, hữu nghị truyền thống tốt đẹp.
- Trao đổi đoàn:
+ Các đoàn Việt Nam: Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Nguyễn Hữu Thọ (10/1978); Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp (12/1980); Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm (3/1995); Chủ tịch nước Trần Đức Lương (10/2002); Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (4/2008); Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang (7/2009); Ủy viên Trung ương Đảng Võ Đức Huy dự Đại hội Đảng MPLA (12/2009); Giám đốc Học viện Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Lê Hữu Nghĩa (5/2010); Thứ trưởng Ngoại giao Đoàn Xuân Hưng thăm và họp Tham vấn chính trị tại Angola (7/2011); Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình Bùi Văn Nam (7/2012); Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh (8/2013); Thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh (8/2013); Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải (8/2015); Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình (12/2016); Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng (12/2018); Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trần Công Phàn (12/2019; Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm (7/2023), Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định tham dự Đại hội đồng lần thứ 147 của Liên minh nghị viện thế giới (IPU-147), Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn (3/2024); Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa (5/2024); Chủ tịch nước Lương Cường thăm cấp Nhà nước (8/2025).
+ Các đoàn Angola: Chủ tịch Đảng MPLA, Agostinho Neto (8/1971); Bộ trưởng Ngoại giao Paulo Jorge (1979); Tổng thống Cộng hòa Nhân dân Angola José Eduardo dos Santos (4/1987); Chủ tịch Quốc hội Roberto de Almeida (10/2004), Quốc vụ khanh Bộ Ngoại giao Angola (8/2010); Phó Tổng thống Angola (02/2012); Quốc vụ khanh Pháp chế Phủ Tổng thống Florbela Rosa (3/2013), Bộ trưởng Bộ Cựu Chiến binh Kundi Paihama (9/2013), Bộ trưởng Bộ Nội vụ Ângelo Tavarez (10/2014), Bộ trưởng Bộ Viễn thông và Công nghệ Thông tin Mario Rocha (3/2017), Bộ trưởng Ngoại giao Georges Rebelo Pinto Chikoti (4/2017), Quốc vụ khanh Bộ Ngoại giao Domingos Vieira Lopes (11/2022), Trưởng Ban Đối ngoại Đảng MPLA Manuel Augusto (8/2024); Ủy viên Bộ Chính trị đảng MPLA dự lễ kỷ niệm 30/4 (4/2025) và 80 năm Quốc khánh (9/2025).
- Các cơ chế hợp tác
+ Uỷ ban liên Chính phủ: Ủy ban liên Chính phủ giữa hai nước được thành lập tháng 7/1985, đã tiến hành 07 kỳ họp. Kỳ họp lần thứ 7 diễn ra vào tháng 3/2024 tại Angola.
+ Tham vấn chính trị: Bộ Ngoại giao hai nước đã họp Tham vấn chính trị cấp Thứ trưởng Ngoại giao lần đầu tiên tại Luanda vào tháng 6/2011.
2. Hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư
- Angola công nhận quy chế kinh tế thị trường đầy đủ của Việt Nam tháng 4/2008.
- Về thương mại, kim ngạch song phương năm 2025 đạt gần 286 triệu USD, trong đó giá trị xuất khẩu của Việt Nam đạt 58 triệu USD, chủ yếu là hóa chất, phương tiện vận tải, phụ tùng; nhập khẩu 228 triệu USD, chủ yếu là dầu thô, thúc ăn gia súc và nguyên liệu.
- Về đầu tư, lũy kế tính đến hết tháng 11/2025, Angola có 04 dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn đầu tư đăng ký là 118,4 triệu USD. Việt Nam có 04 dự án đầu tư sang Angola với tổng số vốn đầu tư đăng ký là 2,98 triệu USD.
3. Hợp tác trong các lĩnh vực khác
3.1. Hợp tác trong các vấn đề khu vực và đa phương: Hai nước thường xuyên phối hợp, ủng hộ lẫn nhau trên các diễn đàn đa phương.
3.2. Hợp tác giáo dục đào tạo: Từ những năm 1980, Việt Nam đã cử nhiều chuyên gia giáo dục và y tế sang làm việc tại Angola. Hiện nay, số lượng chuyên gia Việt Nam đang làm việc tại Angola khoảng 100 người.
3.3. Hợp tác văn hóa - du lịch: Tại thủ đô Luanda có đại lộ Hồ Chí Minh, dài khoảng 3,4 km và là một trong những con đường đẹp nhất thủ đô. Nhiều cơ quan quan trọng của Angola như Đảng MPLA, một số bộ, ngành, đài truyền hình quốc gia… có trụ sở nằm trên con đường mang tên Bác.
4. Cộng đồng Việt Nam tại Angola
Angola là địa bàn có cộng đồng người Việt đông nhất tại châu Phi. Hiện nay, có khoảng 8.000 người Việt Nam đang sinh sống và làm việc tại Angola, tập trung đông nhất ở thủ đô Luanda và các thành phố lớn. Các hoạt động thương mại của người Việt Nam tại Angola phần lớn diễn ra ở quy mô nhỏ lẻ, tập trung vào các lĩnh vực, bán lẻ, nhà hàng, xây dựng, thương mại gỗ, y tế...
Hội người Việt Nam tại Angola đã được thành lập và được Chính phủ Angola cấp phép hoạt động từ tháng 4/2016. Hội doanh nhân Việt Nam tại Angola được thành lập tháng 6/2024.
5. Các Hiệp định/thỏa thuận đã ký kết
Hiệp định về việc Việt Nam cử chuyên gia sang công tác tại Angola (1984); Hiệp định thương mại (1978, ký lại năm 2008); Hiệp định hợp tác văn hóa, Hiệp định khung về hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật (1978); Hiệp định về cử chuyên gia Việt Nam sang Angola hợp tác trong lĩnh vực giáo dục (1995) và Y tế (1996); Nghị định thư về hợp tác khoa học và công nghệ (2002); Nghị định thư hợp tác trên lĩnh vực nông nghiệp, Nghị định thư hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao (2002); Thỏa thuận hợp tác về lĩnh vực thuỷ sản (2004); Hiệp định miễn thị thực cho người mang hộ chiếu ngoại giao, công vụ (2008); Nghị định thư về hợp tác trong lĩnh vực dầu khí (2008); Hiệp định khung về hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật và văn hóa (2008); Ý định thư hợp tác xây dựng (2009); Nghị định thư hợp tác chuyên gia giáo dục (2011); Hiệp định hợp tác trong lĩnh vực khoa học, công nghệ (2011); Nghị định thư về hợp tác kỹ thuật trong lĩnh vực giáo dục đại học, Nghị định thư về hợp tác văn hóa (2012), Hiệp định hợp tác trên lĩnh vực an ninh và trật tự công cộng (2014); Thỏa thuận hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng MPLA giai đoạn 2018-2022 (2018) và giai đoạn 2024-2029 (2024); Hiệp định chuyển giao người bị kết án phạt tù; Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự; MOU về hợp tác phòng chống tội phạm giữa Viện Kiểm sát NDTC và Cơ quan Tổng chưởng lý Angola; Ý định thư về hợp tác giữa Bộ Quốc phòng 2 nước; Kế hoạch hành động về hợp tác nông nghiệp giữa 2 Bộ Nông nghiệp;MOU hợp tác giữa Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Truyền hình Quốc gia Angola; MOU về hợp tác dầu khí giữa PVEP và Sonangol E&P (8/2025).
Tháng 01/2026